Cơ sở lý luận và thực tiễn để lên CNXH bỏ qua TBCN ở Việt Nam? Tính tất yếu khách quan con đường đi lên XHCN ở Việt Nam


Cơ sở lý luận và thực tiễn để lên CNXH bỏ qua TBCN ở Việt Nam? Tính tất yếu khách quan con đường đi lên XHCN ở Việt Nam

Loại file: word - Số trang: 5 - Phí Download: 10.000 đ

Bạn đang xem bản rút gọn. Để xem bản đầy đủ, bạn cần tải tài liệu về máy. Có thể xem hướng dẫn tại đây:
http://inluon.net/huong-dan-tai-lieu/



Quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là những vấn đề lý luận cốt yếu. Tiến lên chủ nghĩa xã hội là tư tưởng nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay. Tuy nhiên, đó là con đường phát triển lâu dài và trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ phát triển đất nước, đường lối chiến lược phát triển đó của Đảng ta luôn được bổ sung, hoàn thiện và phát triển đáp ứng những yêu cầu mới của thời đại.

1. Quá độ đi lên CNXH là gì?

Theo quan điểm của Mac, Angghen: khi quá độ từ CNTB->CNCS: mâu thuẫn cơ bản của XH CNTB và những đặc trưng của XHCS. Từ CNTB->CNCS là cả quá trình lịch sử lâu dài, từ khi GCCN giành được chính quyền đến khi GCCN xây dựng thành công CNCS. Quá độ là 1 quá trình cải biến CM từ XHTBCN lên XHCSCN.

Theo quan điểm của LeNin:

Thứ nhất: Lê Nin khẳng định tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH thông qua các nội dung: 1. Khẳng định quan điểm của Mac về thời kỳ quá độ từ CNTB ở trình độ cao lên CNCS và chỉ ra loại hình quá độ mới từ các nước TB trung bình lên CNXH và gọi là thời kỳ quá độ đặc biệt; 2. Lê Nin khẳng định quá độ theo chủ nghĩa rộng nhất như Mac đã chỉ ra, trong thời kỳ ấy, chúng ta trải qua một loạt thời kỳ quá độ, trong đó có thời kỳ quá độ lên CNXH. 3. Lê Nin khẳng định quan điểm của Mac về bản chất chính trị của thời kỳ quá độ CNXH là xóa bỏ giai cấp, chuyên chính vô sản sẽ thừa khi không còn giai cấp và giai cấp biến mất nếu không có chuyên chính vô sản. Lê Nin cũng chỉ ra các hình thức quá độ về kinh tế.

Thứ hai: Lê Nin nêu đặc điểm cơ bản thời kỳ quá độ lên CNXH. Thời kỳ ấy không thể không gồm những đặc điểm và kết cấu kinh tế TBCN và kinh tế CSCN. Có sự đan xen và đấu tranh giữa hai loại hình kinh tế là đặc trưng cơ bản thời kỳ quá độ

Thứ ba: LeNin nêu nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hôi, văn hóa mà ĐCS, nhà nước XHCN cần thực hiện

Thứ tư: Lê Nin chỉ ra loại hình quá độ mới, quá độ đặc biệt của đặc biệt. Đó là quá độ từ các nước tiền tư bản tiến lên CNXH và CNCS. Những nước kinh tế còn lạc hậu, tiền tư bản có thể tiến lên CNXH không qua CNTB.

Như vậy, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một vấn đề lý luận căn bản đã được C. Mác, Ph. Ăng-ghen và V.I. Lê-nin đề cập một cách sâu sắc trong các tác phẩm của mình.

Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gô-ta, C. Mác khẳng định, giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội này sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị. Như thế, thời kỳ quá độ thường được hiểu là thời kỳ chuyển biến từ trạng thái xã hội cũ sang trạng thái xã hội mới. Ở đây là chuyển từ xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Trong các tác phẩm của mình, C. Mác và Ph. Ăng-ghen, khẳng định thời kỳ quá độ là một tất yếu lịch sử cũng giống như các thời kỳ quá độ từ chế độ cộng sản nguyên thủy lên chế độ chiếm hữu nô lệ, từ chế độ chiếm hữu nô lệ lên chế độ phong kiến và từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản chủ nghĩa đã từng diễn ra. Hơn thế, các ông cũng khẳng định, thời kỳ quá độ diễn ra một cách lâu dài – và độ dài ngắn của thời kỳ quá độ ở mỗi nước phụ thuộc vào xuất phát điểm của các dân tộc cụ thể khi bước vào thời kỳ quá độ, cũng như những nhân tố tác động khách quan của thời đại. Theo các ông, thời kỳ quá độ bao giờ cũng diễn ra với nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó chủ nghĩa xã hội được xem là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản.

Sau này, V.I. Lê-nin có những kết luận lý luận mang tính cách mạng dẫn đến sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện thực ở thế kỷ XX. Cách mạng Tháng Mười Nga đã làm thay đổi lịch sử nhân loại và biến thế kỷ XX trở thành thế kỷ của chủ nghĩa xã hội.

Về mặt lý luận từ các tác phẩm của các nhà kinh điển, có thể thấy, về thời kỳ quá độ, có 3 cách hiểu:

1- Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản;

2- Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội;

3: Thời kỳ quá độ từ xã hội tiền tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Thực ra, đối với các nhà kinh điển, chủ nghĩa xã hội chỉ là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, chỉ là có hai cách quá độ lên chủ nghĩa xã hội:

1- Từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội – đó được xem là sự quá độ trực tiếp;

2- Từ xã hội tiền tư bản lên chủ nghĩa xã hội – đó được xem là sự quá độ gián tiếp.
Tuy nhiên, dù gián tiếp hay trực tiếp thì quá độ lên chủ nghĩa xã hội đều là tất yếu khách quan và đều là một thời kỳ lâu dài với nhiều con đường, bước đi với những nội dung, tính chất và đặc thù khác nhau. Dù phải trải qua nhiều bước ngoặt, nhiều thăng trầm với liên tục và đứt đoạn, quanh co, khúc khuỷu, nhưng đó đều là sự phát triển, tiến bộ đi lên của lịch sử nhân loại.

Lý luận về bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

Với học thuyết hình thái – kinh tế xã hội, C. Mác và Ph. Ăng-ghen xem xét sự phát triển xã hội loài người là một tiến trình lịch sử – tự nhiên. Tiến trình ấy, đã phát triển trải qua các chế độ: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản và tất yếu sẽ tiến lên chủ nghĩa cộng sản.

Đảng ta cũng khẳng định, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội. Đó là một tất yếu lịch sử. Điều này có nghĩa, chủ nghĩa tư bản chỉ là một giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại cũng giống như các giai đoạn phát triển trước nó (cộng sản nguyên thủy, chiến hữu nô lệ, phong kiến) mà nhân loại đã từng trải qua.

Nhìn một cách tổng quát, toàn bộ quá trình phát triển của xã hội loài người mấy nghìn năm qua cho thấy, lịch sử không phải bao giờ cũng vận động theo đường thẳng mà để tiến lên, lịch sử thường vận động theo những con đường quanh co, dích dắc; con đường phát triển của lịch sử không phải bao giờ cũng thẳng tiến mà nhiều khi chững lại, thậm chí thụt lùi; sự vận động của lịch sử không phải bao giờ cũng liên tục mà nhiều khi đứt đoạn; không phải bao giờ cũng tuần tự, tiệm tiến mà nhiều khi đột biến, nhảy vọt… Đó là hiện thực lịch sử nhân loại đã từng diễn ra. Mọi hiện tượng lịch sử đều là kết quả hội tụ tất yếu của tất cả các yếu tố và điều kiện lịch sử trong những hoàn cảnh nhất định. Bởi lẽ, cái tất nhiên bao giờ cũng xuyên qua vô số cái ngẫu nhiên.

Phát triển tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin khẳng định: “Xã hội tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ phải chuyển biến thành xã hội xã hội chủ nghĩa”. V.I. Lê-nin nêu rõ: “Vấn đề đặt ra như thế này: đối với các dân tộc lạc hậu hiện nay đang trên con đường giải phóng và sau chiến tranh đã có một bước tiến bộ, mà khẳng định rằng nền kinh tế quốc dân của những dân tộc đó nhất định phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, chúng ta có cho như vậy là đúng hay không? Chúng tôi cho rằng không đúng… Quốc tế cộng sản còn phải xác định và chứng minh trên lý luận cho một nguyên tắc đó là: với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xô-viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.

Như vậy, có thể thấy, theo C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin, một cách chung nhất, điều kiện tiên quyết để “các xã hội tiền tư bản”, “những nước lạc hậu” “tiến tới chủ nghĩa cộng sản” là:

1) cách mạng vô sản đã thành công ở những nước tư bản phát triển nhất và kết hợp với cách mạng của các nước lạc hậu;

2) phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bị đánh bại ở chính “quê hương của nó” và những nơi nó phát triển nhất;


Tìm theo từ khóa: , , , , , ,

Print Friendly
Hot!

Câu hỏi hoặc Bình luận của bạn

Các bài liên quan